ĐÀN TRANH – ĐÊM NHẠC CỦA CƠI TƯƠNG PHÙNG

Chẳng biết có trùng hợp hay không mà nhạc sĩ Phạm Thúy Hoan lại tổ chức một buổi tṛ chuyện âm nhạc vào đúng vào ngày “Cá Tháng Tư” dành cho cây đàn tranh? Ẩn ư đặc biệt ǵ chăng? Có lẽ “Nét đẹp trong tiếng đàn tranh” là nguồn huyền nhiệm khơi gợi những ai có cái tâm muốn khám phá ư vị sâu sắc trong năm cung nhạc ấy. Đêm hội ngộ…Cũng là đêm của ư t́nh…

 

Mà không hội ngộ sao được! Ngẫm lại cũng cảm thấy có chút ǵ tựa nhân duyên giữa người với người, giữa cổ với kim, giữa hư và thực. Địa điểm hành lang Bích Câu – cái tên nghe thơ mộng biết chừng nào – như thầm nhắc tích xưa Tú Uyên gặp Giáng Kiều trong đêm thanh gió mát. Khung cảnh ấm cúng, ánh đèn vàng lan tỏa đến từng khuôn mặt các khán giả mộ điệu thân thương, những chiếc ghế gỗ nhỏ mà trầm mặc như một thóang cung đ́nh, một sân khấu nhẹ nhàng, gần gũi nhưng vẫn mang ít nhiều nét thính pḥng hoài cổ… đă đem đến một bầu không khí trang trọng khi giới thiệu về nhạc cụ cổ truyền. Những người nghệ sĩ nhạc dân tộc cũng thật là tinh tế xiết bao! Khéo thay chiếc áo dài vàng duyên dáng điểm những bông hoa cúc thêu như đang nhảy múa mừng thu sang của Hải Phượng! Đẹp thay dải áo dài đậm đà màu cam đất của Uyên Trâm, mà ngầm nói ǵ khi chiếc xích lô chở người con gái đội nón lá qua chợ Bến Thành vẽ trên tà áo lại dễ thương đến thế! Càng ngơ ngẩn sao màu áo hiền nhiên như tơ vương của cô Thúy Hoan, người nghệ sĩ nhạy cảm vô cùng với cuộc đời, th́ h́nh ảnh chiếc lá nâu trên ngực áo nào khác chi h́nh ảnh vô ngôn đầy dư vị của tinh thần phương Đông! Đúng là họa – nhạc tương phùng! Tất cả màu sắc ấy, bài trí ấy ḥa quyện vào nhau khiến ḷng người thêm rung động. Thị giác đánh thức trước nhất nỗi bồi hồi của ngần ấy con người, và cái tâm, đi t́m những cảm quan c̣n lại trong suốt đêm tṛ chuyện…

Tự nhiên, cởi mở trên sân khấu, cô Thúy Hoan giới thiệu vài nét về chương tŕnh thử nghiệm lần đầu của Tiếng Hát Quê Hương, là một dịp giao lưu xóa đi khỏang cách xa – gần giữa người nghệ sĩ và khán giả, cũng là một h́nh thức học ngoại khóa đối với những học viên của câu lạc bộ muốn t́m hiểu thêm nền âm nhạc cổ truyền mà trên lớp không đủ thời gian để trao đổi. Vậy th́ đêm nay, những điều thắc mắc ấy sẽ có lời giải đáp, sẽ có ḍng nhạc mở mạch tuôn tràn cho cái biết được thỏa mộng đi t́m. Điệu dân ca tha thiết “Bèo dạt mây trôi” mở màn bằng tiếng đàn tranh réo rắt của Hải Phượng, Uyên Trâm, các học viên lớp đàn tranh cùng giọng hát mộc mạc giản dị của ṭan thể khán giả tham gia. Với sự góp mặt của ca sĩ Hạnh Nguyên, bài dân ca Bắc bộ càng ngọt ngào khắc khoải hơn trong nỗi đợi chờ mà người con gái chung thủy trông ngóng người yêu. “Bèo dạt mây trôi chốn xa xôi, anh ơi em vẫn đợi vẫn chờ…”, câu hát vang lên măi cùng tiếng đàn tưởng chừng như không dứt. Sau phần giao lưu ca hát là buổi nói chuyện thân mật để t́m hiểu cây đàn tranh. Lời phi lộ khéo dẫn dắt làm sao...

“ Đàn tranh lệ đúc ngh́n xưa

Tay ai khơi mạch bây giờ lệ tuôn.”

                                                          (Trụ Vũ)

Từ lịch sử, dáng vẻ, âm thanh, nội tâm cho tới cách diễn tấu của người nghệ sĩ lần lượt được phân tích thành một hệ thống rơ ràng cùng nhiều cách minh họa sống động. Giọng nói của nhạc sĩ Thúy Hoan dịu dàng thiện cảm khiến cả khán pḥng yên lặng lắng nghe. Hăy thử t́m về cội nguồn của cây đàn tranh Việt Nam:

“ Các bạn và các em thân mến,

Cây đàn tranh có nguồn gốc từ cây đàn Guzheng (cổ tranh) của Trung Quốc du nhập vào Việt Nam và cùng loại với những nhạc cụ khác của Châu Á. Ở Nhật th́ có cây Koto, Triều Tiên th́ có đàn Kayageum, Mông Cổ th́ là cây Yatga, và Việt Nam có cây đàn tranh. Tuy nhiên, khi du nhập vào nước ta, ḥa ḿnh vào sắc thái dân tộc th́ cây đàn tranh lại mang những tính chất độc đáo và phong cách riêng biệt của người Việt Nam.

 Trước đây chúng ta hay gọi cây đàn tranh là thập lục huyền cầm bởi v́ nó có mười sáu dây, nhưng giờ đây chúng ta gọi chung là đàn tranh v́ ngày nay đàn đă được cải tiến thêm nhiều dây nữa. Đàn tranh có loại cổ điển mà chúng ta thường gọi là 16 dây, sau là 17 dây rồi tăng dần lên 22 hoặc 25 dây theo yêu cầu của nhạc phẩm. Đàn tranh được làm bằng gỗ tung, ngô đồng hay cẩm lai, mặt đàn uốn cong, đáy đàn bằng phẳng có khoét ba lỗ. Theo như cách ví von của người xưa, mặt đàn tượng trưng cho ṿm trời, đáy đàn tượng trưng cho mặt đất, trời đất giao nhau, gặp gỡ giữa năm cung . C̣n ngày nay, h́nh ảnh ấy vượt ra ngoài cách nh́n của cổ nhân và được diễn tả khác đi. Cầu đàn và con nhạn dùng đỡ dây cũng hóa sinh động hơn qua đôi mắt của nhà thơ Nguyễn Hải Phương:

Tay em như ướp bằng thơ

Hóa thân thành bướm vờn hoa sóng dài

Mặt đàn như nước sông đầy

Cho cầu nổi sóng, cho bầy nhạn sa…

Thật là thi vị! Chỉ mới là h́nh dạng bên ngoài mà đă khiến mắt thơ ngẩn ngơ rồi! Lại nói về ba cái lỗ dưới đáy đàn. Lỗ nhỏ phía đầu để treo đàn lên vách, có h́nh quả trám, hay cầu kỳ hơn nữa người thợ có thể chạm h́nh trái tim. Chính giữa là một lỗ h́nh chữ nhật để cho âm vang và cũng để cầm đàn khi di chuyển. Lỗ thứ ba phía cầu đàn để luồn tay vào nối dây, và cũng là nơi âm thanh vang ra, có h́nh bán nguyệt. Nói về cái lỗ thứ ba này, cô Thúy Hoan kể lại một kỷ niệm:

“ Trong lần tôi tham dự một liên hoan giao lưu về cây đàn tranh Châu Á, có phần mỗi nước tự giới thiệu đặc điểm cây đàn của quốc gia ḿnh. Tôi c̣n nhớ đ̣an Nhật Bản đă giới thiệu rất hay với những h́nh ảnh ví von cao nhă. Nào là truyền thuyết tiên nhân, nào cầu đàn là đầu con rồng, dây đàn là sợi gân rồng, nào hai thành đàn là hai thành bờ biển… thật thơ mộng quá! Tới lượt đ̣an Việt Nam giới thiệu. Sau vài nét về các bộ phận, tới lượt ba cái lỗ đáy đàn. Hai cái trên giới thiệu dễ dàng nhưng đến cái thứ ba bỗng nhiên hơi khó để diễn tả. Người Nhật đă nói rất hoa mỹ, c̣n cái lỗ h́nh bán nguyệt của đàn tranh Việt Nam th́ sao? Tôi mới nói với mọi người rằng, người Việt Nam sống rất t́nh cảm và ư nhị, nên cách nói chuyện và nhất là cách tỏ t́nh cũng rất tinh tế, không vội vàng, không vồ vập. Ca dao chúng tôi có một cách biểu hiện thế này khi người con trai tỏ t́nh với người con gái:

Trên trời có đám mây xanh

Ở giữa mây trắng, xung quanh mây vàng

Ước ǵ anh lấy được nàng

Thời anh mua gạch Bát Tràng về xây

Xây dọc rồi lại xây ngang

Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân

Có rửa th́ rửa chân tay

Chớ rửa chân mày chết cá ao anh…

Cái lỗ h́nh bán nguyệt của chúng tôi cũng đẹp như cách nói đó, các bạn ạ! Và mọi người trong buổi giao lưu ngày hôm đó vỗ tay tán thưởng cây đàn của chúng ta nhiệt liệt, khen ngợi rằng với chỉ một chiếc lỗ nhỏ thôi mà chứa cả một trời đầy ư t́nh sâu sắc!”.

Khán giả có vẻ rất thích thú và đă tặng cho cách giải thích tuyệt vời của cô Thúy Hoan một tràng pháo tay gịn giă! Không những nói riêng về cấu tạo của cây đàn, cô Thúy Hoan c̣n diễn giải thêm về các phụ kiện khác, bao gồm các loại móng để khảy đàn (làm bằng đồi mồi hay inox) và cách chỉnh sửa chúng, trục để điều chỉnh âm thanh (có nhiều h́nh dạng), thứ tự các dây đàn (dây trầm số 30, dây vừa số 25 và dây âm cao số 20). Ngoài ra, cách ngồi của người chơi đàn tranh cũng là một yếu tố không kém phần quan trọng và người chơi đàn có thể tùy thích mà chọn cho ḿnh một kiểu ngồi phù hợp. Tôi tưởng tượng đến h́nh ảnh một thiếu nữ đang dạo lướt năm cung mà bỗng nhiên nảy ra mấy lời thơ:

“Dáng em liễu rũ, lau gầy

Tà thanh thiên chở đong đầy gió êm

Cỏ hoa nâng gót chân mềm

Cho tươi điệu nhạc, cho hiền vóc ai…”

Câu chuyện về cây đàn tranh c̣n là sự khám phá lôi cuốn đầy màu sắc của các kỹ thuật diễn tấu, mà từ đó đưa ta vào mông mênh tâm trạng của người đàn và người thưởng thức…

 

Một tiếng rung có thể làm nát ngọc tan hồn:

“Nhạn trời mười sáu cánh chợt vút cao

Tóc tơ bay giữa đất trời lồng lộng

Em liêu trai và em thành cuộc mộng

Dấu rung ngân ba động khắp cơi người…”

Một dấu nhấn làm cả thành sầu rơi rụng:

“Thành sầu ai khóc mà thương?

Ai đau mà nhớ, ai buồn mà vương?

Ai làm mưa lệ rơi tuôn?

Nhấn vào thăm thẳm đêm trường ngh́n sau…”

 

Một ngón vuốt day dứt đến nặng ḷng:

“Năm cung dấu mộng t́nh xưa

Vuốt lên thương nhớ cho vừa nhớ thương

Tơ ḷng trĩu nặng bên đường

Nghiêng nghiêng sợi tóc khôn lường đắm say…”

 

Và bàn tay mổ xuống dây đàn như tiếng kêu t́m nhau của đôi chim loan, chim phượng:

 

“Mổ vào vô tận kiếp này

T́m nhau loan phượng tan bầy tội sao

Tiếng kêu máu đổ lệ trào

Nhớ nhau c̣n đó quặn bào xót xa…”

Bàn tay phải là phần xác, nhưng bàn tay trái lại thổi hồn cho nhạc. Xác lạnh, hồn tươi. Đôi bàn tay ḥa điệu như sự ḥa hợp của ư-lời, như nơi giao hội của âm-dương. Người đàn trải ḷng trên từng phím tơ, người nghe đón nhận tâm t́nh trong từng tiếng nhạc, và biết đâu lúc nào đó ta sẽ t́m thấy một tri âm?

Nhạc sĩ Thúy Hoan nói: “ Chúng ta học đàn, đánh đàn trước nhất cần phải cảm được cái ư nhạc. Bất cứ tác phẩm nào cũng vậy, cũng đều có ư nghĩa riêng của chúng và được biểu đạt bằng âm thanh. Qua đó, ta có thể ít nhiều hiểu được nét nhạc, nội dung của bài nhạc, rồi biết cảm nhận mà nâng niu, tu chỉnh tiếng đàn cho hay hơn, thể hiện được cảm xúc trong khi tập luyện cũng như khi biểu diễn một cách tự nhiên hơn. Tôi nhận thấy chúng ta học đàn có một khuyết điểm mà hầu như khán giả nào cũng góp ư, đó là việc ngồi đàn mà cứ cứng đơ như tượng đá. Lúc đàn th́ rất tốt, nhưng gương mặt lại ít biểu cảm theo tiếng nhạc. Quan niệm sai lầm của chúng ta trong việc thả hồn vào âm nhạc nên được thay đổi. Tại sao cứ cho rằng hễ một cái mỉm cười, một động tác nhấc tay kéo dây thật đẹp hay đưa mắt nh́n theo đôi tay rung nhấn trên dây lại là làm điệu? Đó không phải là điệu! Chính cách ngồi cứng đơ như tượng thế kia mới là điệu đó! Quư vị nghĩ xem có phải không? Có khán giả nào lại thích người nghệ sĩ ngồi đàn trên sân khấu mà không có chút cảm xúc không? Tất nhiên là không thích mấy rồi phải không quư vị? Cho nên khi học nhạc dân tộc chúng ta rất cần chú ư những điểm này để diễn đạt vừa hay mà vừa đẹp nữa. Nhất là khi khảy cây đàn tranh…”.

Và cô dẫn chứng: “ Có lần, Tiếng Hát Quê Hương cùng diễn chung với Thomas Đặng Vũ Thuấn, một sinh viên Việt Nam học tập tại nước ngoài. Anh này là người Việt nhưng có học cây đàn Cổ tranh của Trung Quốc. Thomas cho biết quan niệm về biểu diễn của người Trung Quốc là thể hiện một tác phẩm cũng như vẽ một bức tranh vậy. Từ nhát cọ đầu tiên, hay tiếng đàn đầu tiên, mỗi nét bút hay mỗi âm thanh đều mang một hàm ư diễn tả cái ǵ đó. Có khi là tuyết rơi, hoa nở, trăng lên, có lúc lại nghe như kiếm cung sát phạt, giọt sầu nỉ non… Một động tác vỗ trên dây mà h́nh dung ra cả một thế cước quyền trong vơ học, một động tác kéo đàn mà tưởng như nước chảy mây trôi… Lại có những nhạc phẩm mang tính chất mạnh mẽ chỉ dùng cho người nam biểu diễn v́ đủ nội lực để tung hoành. Nhạc phát ra là ư mênh mang. Người biểu diễn luôn đặt hết cả tâm ư tương thông vào trong nhạc phẩm. Tôi nói ra đây là nhằm mục đích khuyến khích mọi người học đàn nên tiếp thu cái hay của nước bạn để phát triển cho ḿnh. Đó là tác phong biểu diễn chứ không có ǵ là điệu cả. Thể hiện cái cảm của riêng ḿnh cũng giống như con thuyền trên mặt nước vậy. Triều lên, thuyền cũng lên theo. Triều xuống, thuyền cũng theo xuống. Hết sức tự nhiên! Bởi thế khi học đàn tranh chúng ta cũng phải học luôn cái cách diễn tả nội tâm. Người đàn vui th́ điệu nhạc rộn ràng, người đàn buồn th́ điệu nhạc như thở dài chua xót…”

 

Đàn tranh quả là có biết bao điều lư thú! Tôi gọi cái việc cảm thụ nét nhạc ấy là một quá tŕnh chuyển biến tâm trạng vô cùng kỳ diệu của con người. Dường như đến với âm thanh của đàn tranh người ta bỗng muốn sống sâu sắc hơn, bởi tự trong tiếng nhạc luôn ẩn chứa những dư t́nh. Càng nghe ta càng cảm thấy bồi hồi. Học một nhạc cụ dân tộc mà ta ngẫm ra nhiều điều có ích. Trước hết ḿnh biết tôn trọng ḿnh trong lúc biểu diễn, rồi biết tôn trọng khán giả mà cố gắng o bế tiếng đàn, chuyên cần rèn luyện, sau đó là cảm nhận cái hay cái đẹp để truyền cho mọi người và phát huy cái tốt đó rộng khắp. Người Việt Nam có truyền thống sống t́nh cảm, cho nên sự tế nhị trong tiếng đàn trở thành một trong những yếu tố chính. Cách diễn tấu của ta không nghiêng nhiều về kỹ thuật như một số nước mà nghiêng nhiều về sự biểu cảm của bàn tay trái-bàn tay của tâm hồn t́nh cảm- luôn được xem là yếu tố rất quan trọng để đánh giá so sánh tŕnh độ từng người. Người sử dụng tay trái càng khéo léo, càng hay, càng độc đáo uyển chuyển và khiến cho người khác cảm động th́ càng nâng cao được giá trị của một tác phẩm âm nhạc.

 

Đặc biệt trong chương tŕnh, nhạc sĩ Phạm Thúy Hoan đă minh họa về cây đàn tranh rất sinh động bằng rất nhiều áng thơ của các thi hữu. Có lẽ các nhà thơ với tâm hồn đa cảm của ḿnh khi nghe tiếng đàn tranh đă cầm ḷng không đặng mà viết nên những lời  ca ngợi:

“Thoạt tiên gieo một chuỗi cười

Ngón mềm nhún nhảy trên mười sáu dây”

                                                           (Nguyễn Văn Thinh)

Cái ngón Á độc đáo chỉ có ở đàn tranh qua đôi tai của nhà thơ Nguyễn Văn Thinh nghe như “một chuỗi cười”. Có người lại nghe như tiếng nước chảy, có người lại nghe thành tiếng gió thổi lá cây… Thật vô vàn h́nh tượng! Đối với các em thiếu nhi học đàn tranh, việc h́nh tượng hóa cây đàn với những h́nh ảnh sống động dễ thương như vậy sẽ khơi dậy niềm yêu thích của các em đối với nhạc dân tộc. Nhạc sĩ Thúy Hoan cũng viết tặng cho các học sinh nhỏ của ḿnh những câu đáng yêu:

 

“Bàn tay thoăn thoắt trên dây

Như đôi bướm trắng lượn bay trên cành”

 

Và viết cho đàn tranh nhiều hơn hết thảy có lẽ là nhà thơ Nguyễn Hải Phương. Phải chăng có duyên có nợ với người đàn, với tiếng đàn mà người thi sĩ tài hoa đó trót vương vấn tơ t́nh trên trang giấy? Người thuở xưa đă ra thiên cổ, mà tiếng thơ nào có nguôi ngoai nỗi niềm thương mến bao giờ…

ÁNH NHẠC

“Mười sáu dây t́nh lên tiếng khóc,

Dập d́u ánh nhạc tóc tơ bay

Cung đàn bạc mệnh nào đây?

Nỉ non khóe mắt, hao gầy dáng thơ

Ngón tay ướp lệ bao giờ

Ngh́n thu nhung nhớ vật vờ t́m nhau

Bờ môi chín ủ trái sầu

Hắt hiu lời gió cho đau nắng vàng

Tay em nhẹ níu cung đàn

Đưa anh về với biển ngàn xót thương…”

 

Người tri kỷ đọc lại những câu thơ thuở trước, hỏi người tri kỷ nơi bến bờ kia có c̣n nhớ chăng? Không gian đêm nhạc trong giây phút ấy lắng đọng để quay về hoài niệm, giọng thơ xót xa “ngh́n thu nhung nhớ vật vờ t́m nhau”. Bài thơ khép mở hai cơi ḷng, một ở rất xa, một c̣n vọng bóng nơi đây. “Mười sáu dây t́nh lên tiếng khóc-Dập d́u ánh nhạc tóc tơ bay”, tiếng đàn cũng vội t́m nhau, cũng “hắt hiu lời gió cho đau nắng vàng”. Có chút ǵ trong “ánh nhạc” ngày xưa trở về trong đêm nay, dặt d́u trong đêm nay, nhung nhớ trong đêm nay, để rồi “biển ngàn xót thương” ấy hẹn một ngày nào đó dây t́nh chuyển khúc, người mộ điệu lại có thể “lắng tai Chung Kỳ”:

 

“Sao không chuyển khúc tơ vương

Cho xanh ánh nhạc, cho hường bờ môi?”

Đêm nay là đêm đàn tranh hay đêm tái ngộ, hỡi ánh nhạc ngh́n thu?...

Nhạc sĩ Thúy Hoan có giới thiệu một học tṛ nhỏ của ḿnh cùng với những sáng tác của em viết tặng cô, tặng cho những điệu đàn nồng say mà em cảm nhận được trong những lúc tràn đầy niềm hứng thú. Thơ viết cho đàn, hay thơ trải t́nh ḿnh vào tiếng nhạc? Em đọc, mà ḷng như thổ lộ t́nh yêu:

“Mấy thuở cung đàn dệt ngẩn ngơ

Ai rung tay ngọc dưới trăng mờ

Cho bao thương mến người nghệ sĩ

Điệu nhạc nồng say những tóc tơ”

Người nhạc sĩ tỏ bày:

“Mỗi lần Tiếng Hát Quê Hương có chương tŕnh biểu diễn, tôi đều mời các nhà thơ đến xem, qua đó, có thể khơi mạch nguồn cảm hứng đối với tấm ḷng yêu thương của thi sĩ dành cho cây đàn tranh, cho âm nhạc dân tộc mà viết nên những câu thơ tuyệt mỹ. Thơ viết  cho cái đẹp trên sân khấu phương Đông, tâm hồn và t́nh cảm của người Á Đông. Các nhà thơ có một thính giác tinh nhạy, họ nghe những ư lời không ai t́m thấy được để trỗi lên cung nhạc cho riêng ḿnh, cũng như tặng khách tri âm. Và những câu thơ, đôi khi c̣n là một mối t́nh gắn kết người với nhạc. Tôi rất mong những tấm ḷng thấu hiểu yêu thương dành một chút góc nhỏ trái tim ḿnh cho nhạc cổ truyền của chúng ta, để trong thơ c̣n vang dậy tiếng tơ đàn măi hoài âm…”. Đúng là đêm thi-nhạc tương phùng!

 

Phần tŕnh diễn của hai nghệ sĩ Hải Phượng và Uyên Trâm trong đêm nhạc cũng đă đem đến không khí thưởng thức văn nghệ đầy chất thi và họa. Mỗi người một vẻ, và mỗi nhạc phẩm là một cách diễn tả hấp dẫn riêng. Hải Phượng với “T́nh đất đỏ miền Đông” tràn ngập t́nh yêu quê hương bao la, nụ cười tự tin và những ngón tay bay bổng như đưa h́nh ảnh đất đỏ vẽ ra trước mắt khán giả. C̣n Uyên Trâm lại dạt dào cảm xúc thiết tha trong “Vàm cỏ Đông”, tiếng đàn như tiếng sóng nước vỗ vào mạn thuyền làm ḷng người thêm lưu luyến. Hai người nghệ sĩ, hai đôi tay lả lướt trên cung đàn khiến ta dễ dàng buông lơi theo ḍng nhạc cảm. Tiếng tranh réo rắt không lời mà dư vị ngát đầy…

 

Cuộc vui rồi cũng đến lúc tàn. Chén nước vối chuyền tay nhau, đằm thắm t́nh đàn, t́nh người qua những giai điệu mượt mà của tiếng tranh. Tấu lên khúc ca “Lối về xóm nhỏ”, bài hát “C̣ lả” thân quen, cả người nghệ sĩ lẫn người khán giả mở tấm ḷng thực của ḿnh để cảm nhận những nét đẹp của đàn tranh, của âm thanh đưa tất cả đến gần gũi bên nhau. Người nghệ sĩ đón nhận những tấm chân t́nh của khán giả, c̣n người thưởng thức lại cứ muốn sống hoài trong từng lời của năm cung. Trong tiếng đàn, chúng ta dường như sống thật, thật với ḿnh, thật với cảm xúc, và thật với tâm hồn. Ngẫu nhiên ngày “Cá Tháng Tư” trở thành cái nền đối lập nhằm nâng lên cái ư nghĩa “thật” của buổi nói chuyện. Ngày này khi người ta đùa cợt nhau để t́m chút niềm vui chóng tàn th́ đêm nay ta lại không biết “dối” ḷng qua tiếng đàn đầy yêu thương. Nếu không thật với cảm xúc, ai lại có thể cảm động và cũng thấy dứt day khi nghe “ánh nhạc” qua tâm t́nh của một người tri kỷ? Ai lại có thể vui thích vỗ tay hát theo những bài dân ca trữ t́nh đậm đà? Ai lại ngẫm nghĩ cả về tấc ḷng của khách tri âm khi ḿnh c̣n loanh quanh đi t́m trong thương nhớ?...Tất cả hội về với sợi dây t́nh cảm rất thật, rất tự nhiên. Tự nhiên như bản thân vốn sẵn là vậy. Cây đàn tranh vẫn chưa khép lại đêm nhạc ấy, bởi tự trong ḷng mỗi chúng ta, tiếng đàn sẽ c̣n măi vang vọng cùng nỗi tự t́nh của nó. Phải, đêm hội ngộ…đêm của ư t́nh… cơi tương phùng hỡi đàn tranh!

 

Khánh Vân

Viết cho đêm nhạc đầy ư nghĩa của cô Thúy Hoan

 

RETURN TO COLUMNS PAGE