Nghệ sĩ đàn tranh Hải Phượng

Trà Mi, phóng viên đài RFA

Theo quan niệm truyền thống Á Đông, nét đẹp của người phụ nữ không chỉ dựa trên tiêu chuẩn về dung mạo, nhan sắc, mà c̣n có nhiều tiêu chí đánh giá khác nữa. Chuyên đề phụ nữ hôm nay sẽ đề cập đến một trong bốn vẻ đẹp tao nhă "cầm-kỳ-thi-hoạ" của phụ nữ Việt Nam.

Trà Mi xin giới thiệu đến quư vị một ngón đàn điêu luyện trong làng âm nhạc dân tộc hiện nay: Nghệ sĩ đàn tranh Hải Phượng.

Sinh trưởng trong một gia đ́nh có truyền thống nhạc dân tộc, nghệ sĩ Hải Phượng đă sớm bộc lộ tài năng về âm nhạc từ khi c̣n tấm bé. Năm 7 tuổi, chị vào học đàn tranh ở Nhạc Viện TPHCM khóa đầu tiên năm 1976.

Sau mười mấy năm dày công khổ luyện bên cung đàn từ trung học dài hạn đến đại học, và cả cao học, năm ngoái, nghệ sĩ Hải Phượng vinh dự là 1 trong 2 thạc sĩ đầu tiên chuyên ngành sư phạm biểu diễn âm nhạc dân tộc của Nhạc Viện. Hiện chị là giảng viên chính thức của Nhạc Viện thành phố. Ngoài những thành tích và giải thưởng trong nước, tiếng đàn tranh ngọt ngào, sâu lắng của chị c̣n vươn xa đến nhiều nước tại Châu Á và Châu Âu qua những cuộc liên hoan âm nhạc và giao lưu quốc tế.

Với niềm say mê âm nhạc dân tộc, chị đă cùng mẹ là nhà giáo ưu tú Thúy Hoan, và em gái là nghệ sĩ Hải Yến thành lập Câu lạc bộ Tiếng hát Quê hương vào năm 1981, với mục đích bảo tồn, phát triển, và phổ biến âm nhạc dân tộc Việt Nam.

Trà Mi: Xin chào chị Hải Phượng. Chị có thể cho quư thính giả biết chị bắt đầu làm quen với tiếng đàn tranh từ khi nào?

NS Hải Phượng: Phượng bắt đầu làm quen với đàn tranh từ hồi 5 tuổi. Lúc đó, mẹ Phượng là nhà giáo Phạm Thuư Hoan là giảng viên của trường quốc gia âm nhạc. Từ hồi nhỏ Phượng đă được mẹ dạy rồi. Đến năm 7 tuổi th́ ḿnh chính thức thi vào trường quốc gia âm nhạc tức Nhạc viện TPHCM.

Yêu thích âm nhạc dân tộc

Trà Mi: V́ sao chị yêu thích tiếng đàn tranh và đam mê âm nhạc dân tộc?

NS Hải Phượng: Từ nhỏ Phượng học là v́ thấy thích, thấy nó lạ, thanh. Càng học ḿnh càng yêu thích môn đàn tranh và cảm thấy rất gắn bó với nó. Mỗi lần nghe hoặc đàn đàn tranh th́ ḿnh luôn có những cảm xúc rất mới lạ, thấy thư giăn, thoải mái.

Trà Mi: Chị từng tham dự rất nhiều cuộc liên hoan âm nhạc quốc tế, mỗi lần đem chuông đi đánh xứ người như thế, chị có ghi nhận ǵ, có sự so sánh ǵ giữa âm nhạc cổ truyền Việt Nam ḿnh với âm nhạc dân tộc của các nước bạn trên thế giới?

NS Hải Phượng: Phượng nhận thấy mỗi nền âm nhạc có cái hay riêng, nhưng đối với ḿnh th́ luôn cảm thấy âm nhạc Việt Nam là hay nhất.

Trà Mi: Nhưng qua những lần liên hoan quốc tế như thế th́ chị thấy các nước đánh giá như thế nào đối với âm nhạc dân tộc của Việt Nam ḿnh?

NS Hải Phượng: Những nhà chuyên môn quốc tế mà Phượng đă tiếp xúc nói là nh́n nhạc cụ Việt Nam rất đơn giản, nhưng đến khi ḿnh diễn tấu th́ họ rất ngạc nhiên v́ cái kỹ thuật của đàn cũng như sự biểu cảm của nó. Như cây đàn bầu chẳng hạn, chỉ có 1 dây nhưng có thể đánh lên một bài có lúc vui, có lúc thật buồn. Họ rất thích thú và say mê tiếng đàn của ḿnh.

Trà Mi: Nói tới tiếng đàn của chị th́ Trà Mi rất thích bài Lư Chim Quyên do chị diễn tấu. Sẵn đây, Trà Mi xin trích một đoạn ngắn để mời quư thính giả cùng thưởng thức.

Quá tŕnh khổ luyện

Trà Mi: Để có được tiếng đàn trao chuốt như vậy mất thời gian tập luyện bao lâu thưa chị?

NS Hải Phượng: Đương nhiên là phải khổ luyện, mà khổ luyện th́ rất là mất thời gian.

Trà Mi: Quá tŕnh luyện tập của chị như thế nào ạ?

NS Hải Phượng: Trong những cuộc thi hay biểu diễn lớn th́ ḿnh tập đến chừng nào đạt được thôi.

Trà Mi: Là người giảng dạy lâu năm, chị thấy một học viên cần bao lâu mới có thể đàn được một bài thành thạo?

NS Hải Phượng: Nếu siêng tập th́ một bài đơn giản mất 1 tháng. C̣n những bài phức tạp th́ có thể là tập mỗi ngày 8 tiếng trong ṿng 5 tháng.

Trà Mi: Nhưng cơ bản là sau bao nhiêu khoá học th́ họ biết đàn và hiểu được những nốt nhạc?

NS Hải Phượng: Cái đó th́ nhanh lắm, chỉ trong ṿng 4 tháng thôi.

"Tuy khiêm tốn nhưng không mất đi"

Trà Mi: Vừa rồi, Trà Mi có dịp được trao đổi với giáo sư-tiến sĩ Trần Văn Khê th́ giáo sư có nhận xét rằng nền âm nhạc dân tộc Việt Nam đang trong t́nh trạng nguy hiểm. Là một người thành danh trong lĩnh vực âm nhạc dân tộc, chị nhận thấy t́nh h́nh sinh hoạt âm nhạc dân tộc trong nước hiện nay ra sao ạ?

NS Hải Phượng: Thật ra không chỉ âm nhạc Việt Nam mà một số các nước Phượng đă đến ví dụ như Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan.. th́ âm nhạc dân tộc có vị trí rất khiêm tốn so với nhạc trẻ, nhạc thời trang.

Tuy khiêm tốn nhưng không mất đi. Một bài hát thời trang năm nay người ta hát, năm sau có thể không c̣n thích hát nữa, nhưng một bài dân ca th́ đă sống qua bao nhiêu năm và sẽ vẫn sống. Bởi khi người ta nhận ra giá trị đích thực của nó th́ người ta sẽ ǵn giữ, bảo tồn.

Ḿnh nghĩ là nó không bị mai một theo thời gian. Nó không có bề nổi, nhưng có bề sâu. Âm nhạc dân tộc giống như lớp phù sa ở dưới, mặc dù người ta không nh́n thấy nhưng nó vẫn chảy.

"Kiếm sống bằng niềm đam mê"

Trà Mi: Thế nhưng chị và đồng nghiệp, những người có ḷng với âm nhạc dân tộc có thể kiếm sống bằng tài năng của ḿnh trong lĩnh vực này không?

NS Hải Phượng: Hiện thời bây giờ tuy không kiếm sống một cách dễ dàng, nhưng những người làm âm nhạc dân tộc vẫn sống với niềm đam mê của ḿnh. Về mặt xă hội th́ người ta vẫn tôn trọng, chỉ có điều là ḿnh kiếm tiền không bằng ca sĩ thôi.

Trà Mi: Hồi xưa phụ nữ Việt Nam thường được đánh giá qua những tiêu chuẩn như là "cầm, kỳ, thi, hoạ". Chị thấy cái quan niệm này ngày nay nó đă thay đổi như thế nào?

Phụ nữ Việt Nam ngày nay

NS Hải Phượng: Phụ nữ bây giờ ở đây người ta gọi là "giỏi việc nước đảm việc nhà". Nếu theo tiêu chí "công-dung-ngôn-hạnh" như ông bà ḿnh ngày xưa th́ có lẽ là phụ nữ giờ không có được công, dung, ngôn, hạnh vẹn toàn như ngày xưa, mà bù lại phụ nữ ngày nay không chỉ công việc trong gia đ́nh mà công việc ngoài xă hội cũng giỏi.

Trà Mi: Hồi xưa nhắc tới chữ "cầm" nghĩa là muốn nói đến đàn bầu, đàn tranh, hay đàn t́ bà, nhưng các bạn gái ngày nay khi nói về chữ "cầm" th́ thường liên hệ đến khả năng chơi đàn piano hay các nhạc cụ tân thời của phương Tây. Chị nghĩ sao về điều này?

NS Hải Phượng: Đương nhiên đó là một điều thiệt tḥi, nhưng không chỉ ở nước ḿnh mà ở các nước khác cũng vậy. Ví dụ như ở Nhật, họ có những nguồn quỹ riêng dành cho âm nhạc dân tộc, cho những ai giảng dạy âm nhạc truyền thống. Ở Hàn Quốc cũng vậy, có những trường riêng, và những người dạy nhạc dân tộc rất được coi trọng, nhưng họ cũng không thể nào phát triển mạnh và nhiều như các loại h́nh âm nhạc Tây phương.

Bảo tồn âm nhạc cổ truyền

Trà Mi: Các nước khác có chế độ ưu đăi đối với những người sinh hoạt âm nhạc dân tộc, cổ suư và có quỹ hỗ trợ những ai đến với âm nhạc cổ truyền. C̣n ở Việt Nam ḿnh có những điều đó chưa, thưa chị?

NS Hải Phượng: Thật ra Việt Nam vẫn c̣n nghèo. Những cái quỹ như vậy có lẽ chưa có nhiều, chủ yếu c̣n lo cái ăn cái mặt nhiều hơn, nhưng ḿnh hy vọng trong tương lai, Việt Nam không chỉ nhận viện trợ từ bên ngoài mà cũng sẽ có quỹ để tự khôi phục lại những cái vốn cổ.

Khi đi ra nước ngoài bây giờ người Việt đă biết rằng một khi có tŕnh độ âm nhạc dân tộc sẽ rất khó quên nguồn cội.

Trà Mi: Vâng, nhưng hầu như giới trẻ bây giờ quay lưng lại với nhạc cụ dân tộc mà chạy theo những nhạc cụ nước ngoài. Chị muốn nhắn nhủ ǵ với các bạn nữ yêu nhạc hay không?

NS Hải Phượng: Các bạn nếu yêu mến, nên tham gia các câu lạc bộ âm nhạc dân tộc. C̣n nếu không có điều kiện tham gia th́ nên thể mua băng đĩa về nghe để hiểu hơn về những ǵ cha ông đă dày công ǵn giữ bao nhiêu năm.

Trà Mi: Rất cảm ơn thời gian chị đă dành cho chương tŕnh hôm nay, và xin chúc chị tiến xa hơn nữa trên con đường nghệ thuật của ḿnh.

Chuyên đề Phụ xin chia tay với quư vị tại đây. Hẹn tái ngộ cùng quư vị trong một chuyên đề mới vào tuần sau. Trà Mi kính chào.

Source: www.rfa.org/vietnamese

Hai Phuong: Born in 1969 in Saigon, Hai Phuong learned dan tranh (16-chord zither) at Ho Chi Minh City Conservatory since 1975. In 1992 at her first 16-chord zither contest, she won the first prize and became a “dan tranh” star in Vietnam . In 1993, she went to France and recorded the CD La Music Hier et Aujourd’hui with Professor Tran Van Khe. She was selected to perform at Expo’ 93 in the Republic of South Korea and at the Vietnam Festival in Japan in 2001. On the Vietnamese Music Day at the ACL (Asian Composers League) Music Festival in 2000, she was invited to perform a musical piece of Nguyen Xinh with the “dan bau” (monochord) in the Tokyo Symphony Orchestra.

 

RETURN TO COLUMNS PAGE