CHUYÊN ĐỜI CHUYÊN NGHỀ:

Nhà giáo ưu tú PHẠM THÚY HOAN: ĐĂ TRÓT YÊU CÂY ĐÀN DÂN TỘC !

Nhà giáo ưu tú Phạm Thúy Hoan có 42 năm gắn bó với công tác sư phạm âm nhạc, từng tham gia rất nhiều hội diễn, liên hoan âm nhạc dân tộc thế giới. Chị c̣n có công biên soạn rất nhiều tác phẩm hỗ trợ công việc giảng dạy như Đàn tranh, Ca khúc soạn cho đàn tranh…Và sáng tác một số bài như T́nh ca quê hương, Mùa thu quê hương… Biến tấu bài Qua cầu gió bay… Bao thế hệ học tṛ đă trưởng thành, NGƯT Phạm Thúy Hoan vẫn luôn canh cánh bên ḷng với ước mong các em khôn lớn và sẽ như ḿnh truyền những đốm lửa của niềm say mê với tiếng đàn dân tộc đến với nhiều người.

15 tuổi t́nh cờ một lần được chị Khánh Linh dẫn vào trường Quốc Gia Âm nhạc và Kịch nghệ Sài G̣n, cô bé Hoan cứ lang thang rảo bước qua các pḥng để xem người ta học đàn. Đứng trước cây đàn tranh, cô bé như mê mẩn bởi tiếng đàn thật dịu dàng và sâu lắng. Vốn có khiếu thơ văn, mê ca dao, tục ngữ, thích quan họ, môn văn, Hoan luôn ǵành điểm cao và thường được thầy gíao chọn đọc bài mẫu trước lớp. Năm 1962, tốt nghiệp thủ khoa môn Đàn Tranh. Ra trường, chị đă đến biểu diễn đàn tranh và nhạc dân tộc ở các trường trung học. Từ chỗ lạ, ṭ ṃ học cho biết rồi đến yêu và trở thành cái nghiệp đeo đuổi đến tận bây giờ. Chị tham gia giảng dạy tại Nhạc viện TP, đến năm 1997 th́ nghỉ hưu. Hiện chị vẫn đang phụ trách CLB Tiếng hát quê hương ở Cung Văn hóa Lao động. Chủ nhật nào đến cũng thấy không khí thật sôi nổi, vui tươi và rộn ră âm thanh của lớp. Cô tranh thủ truyền đạt kiến thức thật nhiều, tṛ chăm chú tiếp thu. Với chị dạy nhạc v́ thích cái không khí của lớp học – nơi mà t́nh thầy tṛ rất đầm thắm và gắn bó như trong gia đ́nh. Thích được tiếp xúc với nhiều người thuộc nhiều đối tượng, tuổi tác khác nhau. Chị thường tự ngẫm, nghề dạy nhạc chẳng khác ǵ làm bác sĩ, mỗi người học đàn sẽ có những kiểu lỗi sai khác nhau và ‘bác sĩ” phải biết bệnh từng người để giúp đỡ họ. Cách đây khoảng vài năm, vừa tan giờ dạy ở Cung Văn hóa Lao động, chị chạy xe sang Nhạc Viện để chuẩn bị giờ tiếp theo. Dù đă đi cẩn thận chị vẫn bị một chiếc xe đâm sầm vào,. làm chị té ngă đầu chảy máu, và người gây tai nạn th́ chạy mất. Người dân tốt bụng ở bên đường vội chở chị vào bệnh viện Chợ Rẫy. Chỉ một lúc sau khi băng bo, nh́n ra thấy học tṛ đă đứng đầy ở ngoài cửa, c̣n có các bác lớn tuổi nữa. Chị chỉ muốn bật khóc.

Khi hỏi điều ǵ khiến chị nhớ nhất? Chị bảo đó chính là lúc cầm tay của những bác U70-85. Thường th́ ai chẳng thích cầm nắm bàn tay trẻ thơ mũm mĩm xinh xinh, hoặc nh́n những bàn tay mềm mại, búp măng thon dài. C̣n ở đây những bàn tay đă bị khô cứng, những bàn tay một đời lam lũ làm lụng, bàn tay của những người vợ, bà mẹ một đời chỉ biết hy sinh cho chồng con. Giờ đây khi đă lớn tuổi, thảnh thơi t́m chút thư giăn bằng cách đến với âm nhạc dân tộc. Không hiểu sao cứ nắn sửa những bàn tay đó đặt trên cây đàn là trong ḷng chị lại dâng lên một nỗi niềm thương mến và lại cảm thấy nhớ bà và mẹ của ḿnh đến thế! Người lớn tuổi thường hay tự ái, v́ thế khi dạy chị nói thật nhỏ nhẹ, chậm răi giải thích đến khi nào các bác thật hiểu mới thôi. Nhờ vậy mà ḿnh học được tính dịu dàng, kiên nhẫn đấy – chị cười. Mỗi lần CLB Tiếng hát quê hương biểu diễn tại Cung Văn hóa Lao động, thường có sự xuất hiện của cả ba thế hệ v́ thế chiếm được rất nhiều t́nh cảm của khán giả. Các bác lớn tuổi trước những giờ biểu diễn, không ai giấu được sự hồi hộp. Chính sự tham gia này đă giúp các bậc lăo thành cảm thấy vui, trẻ hẳn ra. Chị như cũng thấy vui lây.

Chị có may mắn là sống chung với người bạn đời, nhà thơ Nguyễn Hải Phương. Anh rất hiểu chị, luôn sát cánh động viên chị trước những khó khăn của cuộc sống. Anh nhẹ nhàng và đằm thắm, tạo cho chị một cảm giác thật yên b́nh khi được được bao bọc chở che. Những lần chị làm các tập sách chuyên đề về các loại đàn, về ca trù, quan họ, ca huế …chị đều tham khảo và nhờ anh viết lời đề dẫn. Anh rất thích làm thơ về các loại đàn: đàn tranh, đàn đá, tỳ bà… Mỗi bài mới viết xong, chị bao giờ cũng là người đầu tiên được thưởng thức, đôi khi chị cũng đóng góp vài ư kiến nhỏ trong bài thơ về Đàn Đáy chẳng hạn. Thoạt đầu anh dùng chữ “trống dồn’ nhưng chị nói nếu đă “ca trù đổ hột” th́ từ “phách dồn” đúng và sát nghĩa hơn từ “trống dồn”. Nhắc đến đây, dường như kỷ niệm ngày xưa bỗng như tràn về, chị lặng vài giây rồi khe khẽ đọc bài thơ Đàn Đáy của anh:

 

Tên em tuy có mà không

Ba dây dẫn sóng trăm sông về nguồn

Ca trù đổ hột, phách gịn

Tuổi phai xanh chạm tiếng đờn lại xanh”.

 

Vậy mà “cây bách cây tùng” của đời chị cũng đă ĺa xa chị hai năm nay. Thời gian đầu vắng anh, chị và hai cô con gái xinh đẹp cô đơn, trống vắng buồn đến năo ḷng. May mà áo t́nh thương của học tṛ, của bạn bè c̣n có cả khối lượng công việcphải làm cho Âm Nhạc Dân Tộc mà chị đă đứng vững được. Chị rất biết ơn anh đă cho chị niềm tin để vượt qua tất cả, lúc nào chị cũng có cảm giác anh vẫn ở bên cạnh ḿnh chở che như ngày nào. Dù thời gian cứ khẽ lướt trôi theo ḍng chảy của cuộc đời nhưng tận sâu trong đáy tim của ḿnh, chị biết rằng t́nh yêu nồng nàn của anh và t́nh kính yêu của học tṛ sẽ c̣n ở đây măi măi !

Hồng Hà Tạp Chí Văn Hóa . Nghệ Thuật số 28 (112) ngày 8-7-2004

*********************

Nhà giáo ưu tú Phạm Thúy Hoan

Pham Thuy Hoan

Nhà giáo ưu tú Phạm Thúy Hoan

Nhà giáo ưu tú Phạm Thúy Hoan sinh năm 1942 tại Nam Định, bố là người mê cầm chầu ca trù, mẹ là hoa khôi của làng Lộng Khê tỉnh Nam Định. Không xuất thân trong gia đ́nh có truyền thống nghệ thuật như nhiều nghệ sĩ khác, nhưng cô đă gắn bó suốt cuộc đời của ḿnh cho nghệ thuật nhạc cổ truyền nói chung và cây đàn tranh nói riêng.

Đàn tranh như một duyên nợ

Khoảng năm 1953-1954, gia đ́nh chuyển vào Sài G̣n, cô bé Thúy Hoan lúc đó chỉ mới hơn 10 tuổi, thường được chị Khánh Linh (con gái của bạn thân của mẹ) dẫn đi chơi...

Một chiều mùa hè năm 1957 Khánh Linh dẫn Thuư Hoan vào trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ (QGÂN&KN) Sài G̣n - nơi Khánh Linh đang học đàn tranh - một ḿnh Thúy Hoan lang thang từ pḥng học này qua pḥng học khác để xem mọi người học đàn. Thật t́nh cờ khi đến pḥng học đàn tranh, cô bé Thúy Hoan như bị tiếng đàn tranh mê hoặc, ngẩn ngơ trước những âm thanh thánh thót, nhẹ nhàng, d́u dặt, sâu lắng... Là một học sinh rất yêu thích môn văn, thuộc rất nhiều ca dao, tục ngữ Thúy Hoan thấy âm nhạc dân tộc có những điều rất gần gũi với môn văn mà ḿnh yêu thích, hơn thế nữa nhạc dân tộc qua tiếng đàn tranh, đă gợi cho cô những cảm xúc sâu lắng lạ lùng mà cô không t́m thấy trong môn học văn ở trường phổ thông. Thế là cô gắn bó với thế giới âm nhạc cổ truyền từ đó.

Những người thầy

Có thể nói chị Khánh Linh là người thầy đầu tiên trong sự nghiệp âm nhạc của Thúy Hoan, được chị Khánh Linh dạy những ngón đầu tiên của đàn tranh và sau đó, Thúy Hoan thi vào trường QGÂN&KN Sài G̣n (1958), học môn chính: đàn tranh và môn nhiệm ư: đàn tỳ bà. Tuy nhiên, việc học nhạc ban đầu đơn thuần chỉ v́ sự yêu thích chứ chưa nghĩ đó là con đường mà ḿnh sẽ theo nó suốt đời.

Tại trường, cô học đàn tranh với các thầy giáo: Nguyễn Hữu Ba, (nhạc miền Trung), thầy Trần Viết Vấn (nhạc miền Bắc) và thầy Nguyễn Vĩnh Bảo (nhạc miền Nam). Các thầy là những người đă giúp cô cảm nhận đầy đủ những vẻ đẹp quyến rũ của những nốt đàn, chữ nhạc dân tộc trong dân ca của cả ba miền đất nước, làm cô càng yêu và càng say đắm nó, để có thể thay đổi cả một ước mơ mà cô đă đă từng ấp ủ, đó là: vào học trường sư phạm và trở thành cô giáo dạy văn. Cô đă không vào trường sư phạm nữa mà quyết định theo ngành nhạc. Bởi cô nghĩ rằng tại sao bản thân ḿnh thấy được cái hay, cái đẹp trong nhạc dân tộc mà lại không tuyên truyền, phổ biến để mọi người cùng thưởng thức. Mặc dầu có nhiều khác biệt giữa lĩnh vực văn học và âm nhạc, nhưng chúng đều có một cái chung là thuộc lĩnh vực tâm hồn và cô đều được làm cô giáo. Những buổi học đàn, thầy Nguyễn Hữu Ba thường đọc những bài thơ do ḿnh sáng tác, cô nhớ nhất là các câu:

Nguyền nối lại cung đàn vạn thuở
Nắn ngàn xưa rung chuyển tận ngh́n sau
Để cung đàn xoa dịu nỗi thương đau
Bởi cuộc thế bể dâu tan biến măi...

Với tâm hồn yêu thơ văn và với thực trạng rất ít người biết đến cây đàn tranh lúc bấy giờ, những câu thơ của thầy Nguyễn Hữu Ba như một lời động viên, nhắc nhở, hăy "nối lại cung đàn vạn thuở" của cha ông làm cho cô có thêm nhiều nghị lực và càng quyết tâm hơn để học tập và phổ biến cây đàn tranh đến đông đảo mọi người.

Năm 1962, tốt nghiệp thủ khoa môn đàn tranh và năm 1963 tốt nghiệp thủ khoa môn âm nhạc phổ thông, cô trở thành giảng viên giảng dạy môn đàn tranh của trường QGÂN&KN Sài G̣n.

Cũng sau khi ra trường, tâm đắc và cảm phục "Lá thư hải ngoại" của Gs. Trần Văn Khê đăng trên báo Bách Khoa, cô đă viết thư xin được làm học tṛ của ông. Từ 1962 đến 1974, tuy hai thầy tṛ chỉ trao đổi qua thư từ nhưng chính Gs.Trần Văn Khê là người đă tạo thêm cho cô những niềm tin vững chắc, là người giúp đỡ và uốn nắn những lúc cô dao động bất lực với chính cây đàn tranh của ḿnh.

Sau ngày ra trường với nhiệt t́nh tuổi trẻ, cô đă đến biểu diễn đàn tranh và nhạc dân tộc tại rất nhiều trường trung học ở Sài g̣n, Đà Lạt, Long Xuyên... và là trưởng Nhóm Dân ca quốc nhạc Hoa Sim. Nhưng cũng có những lúc cô cảm thấy bất lực và muốn bỏ nghề v́ chưa t́m được cách thể hiện được những ư tưởng của ḿnh trên cây đàn tranh, nhất là những t́nh cảm sôi nổi, nồng nhiệt của tuổi trẻ. Những lúc bị dao động như thế, chính Gs. Trần Văn Khê đă giải thích cho cô rằng không có một cây đàn nào là vạn năng cả, cái chính là ḿnh phải biết khai thác những ưu điểm của nó, diễn tả những điều phù hợp với tính năng của nó.

Suốt một đời làm cô giáo

Tieng Hat Que Huong

CLB Tiếng hát quê hương

Nghĩ rằng ḿnh là người nối tiếp thế hệ của các thầy, học tṛ ḿnh lại nối tiếp ḿnh, tất cả đều có chung mục đích là truyền nối lại "cung đàn vạn thuở", chính suy nghĩ như vậy nên cô luôn yêu quí học tṛ xem họ như những người bạn đồng nghiệp, cùng với ḿnh đồng hành đến đích chung.

Từ năm 1962-1975 cô là giảng viên đàn tranh của trường QGÂN&KN Sài G̣n (trong đó năm 1968 cô là giảng viên biệt phái của Sài G̣n ra dạy tại trưường QGÂN&KN Huế). Sau ngày giải phóng cô tiếp tục giảng dạy tại Nhạc viện Tp.HCM cho đến ngày nghỉ hưu (1997).

Điều đáng nói trong giảng dạy, đó là sự trùng hợp trong quan niệm về nhạc cổ và nhạc mới của cô đối với giáo tŕnh sau ngày giải phóng. Trước đây ở QGÂN&KN Sài G̣n, nhà trường không khuyến khích các nhạc sinh đàn các bài bản nhạc mới v́ sợ bị lai tạp. Nhưng những tháng ngày biểu diễn ở các trường trung học cô lại thấy rằng những bài bản cổ của đàn tranh rất hay, nhưng nó cũng cần người thưởng thức phải biết một chút ít về nghệ thuật đàn tranh. Trong lúc muốn giới thiệu cái hay của cây đàn tranh đến với đông đảo quần chúng (nhất là những học sinh, sinh viên) th́ việc biểu diễn những bài nhạc mới, những bản nhạc quen thuộc với mọi người, là phương pháp đơn giản và hiệu quả nhất.

Trong suốt 42 năm làm nhà giáo (từ 1962 đến nay), cô đă đào tạo rất nhiều thế hệ trẻ đàn tranh. Học tṛ của cô có nhiều người đoạt giải thưởng cao trong nước và đă biểu diễn rất nhiều ở trong nước cũng như trong các liên hoan âm nhạc dân gian quốc tế, tiêu biểu như Diệu Quang, Lê Thị Kim, Hải Phượng, Uyên Trâm ... Song đáng nói hơn là có nhiều học tṛ sau này đă mở những trung tâm, hoặc tham gia giảng dạy đàn tranh trong những lớp nhạc ở nước ngoài như: Lê Thị Kim, Tuyết Nga (Úc), Thiên Nga (Mỹ), Lương Thị Minh Châu (Đan Mạch), ... Thế hệ học sinh hiện nay nhiều em có triển vọng như: Vũ Chinh, Vũ Chính, Vân Anh, Kim Tiền, Thúy Hà, Châu Thúy, Ngọc Dao ...

Trong quá tŕnh giảng dạy, cô đă biên soạn rất nhiều tác phẩm làm phong phú thêm cho giáo tŕnh giảng dạy đàn tranh tại nhạc viện, cũng như cho hệ thống giảng dạy phong trào như: Phương pháp đàn tranh (tập I, II, III), Tiểu phẩm đàn tranh, Ca khúc soạn cho đàn tranh (tập I, II, III, IV), Dân ca soạn cho đàn tranh (Tập I, II, III). Ngoài ra, cô cũng sáng tác một số tác phẩm cho đàn tranh độc tấu như: T́nh ca quê hương, Mùa thu quê hương, biến tấu Qua cầu gió bay, biến tấu Lư chim quyên, Mơ về Bến Ngự... đặc biệt T́nh ca xứ Huế là một bản đàn được phổ biến rộng răi trong giới biểu diễn đàn tranh.

Pham Thuy Hoan

Nhà giáo ưu tú
Phạm Thúy Hoan

Với công lao đă đào đạo nhiều thế hệ học sinh đàn tranh xuất sắc và có nhiều đóng góp xuất sắc cho phong trào văn nghệ quần chúng, cô đă được tặng nhiều danh hiệu, huy chương, nhiều bằng khen của thành phố và trung ương như: danh hiệu Nhà giáo ưu tú, huy chương V́ sự nghiệp giáo dục", bằng khen Đă có công đào tạo Tài Năng Trẻ đoạt giải xuất sắc tại các cuộc thi chuyên nghiệp toàn quốc, khu vực trong cả nước và quốc tế...

Nay tuy đă nghỉ hưu, ở tuổi ngoài 60 cô vẫn c̣n tiếp tục công việc dạy học thông qua CLB Tiếng hát quê hương - CLB mà cô đă xây dựng từ 1981 và hoạt động liên tục cho tới ngày hôm nay. Cô nghĩ rằng, phải cần tạo dựng từ phong trào để có một phạm vi hoạt động rộng lớn cho mỗi một môn nghệ thuật. Phải tạo ra nhiều đốm lửa nhỏ như thế mới có hy vọng thổi bùng lên những ngọn lửa lớn.

Hữu Trịnh - Giai điệu xanh Online (May 11, 2004)

 

RETURN TO COLUMNS PAGE