Don ca tai tu festival closes
Tan Binh district of Ho Chi Minh City has won the first prize at the 2003 Southern don ca tai tu (a kind of folk music) Festival with the participation of 20 musical bands from the southeast and southwest regions.
Go Vap district of Ho Chi Minh City came second and Binh Duong and Long An shared a third prize. The organising board presented 17 individual prizes.
The organisers also announced results of a competition on writing new lyrics for don ca tai tu, including a first prize, a second prize, a third prize and three consolation prizes. The contest attracted nearly 300 entries. -Nhan Dan (The People)


Preserving traditional chamber tai tu music
About 200 artists contributed to preserving the Vietnam’s traditional chamber tai tu music when they took part in the second Don Ca Tai Tu festival for the south which has recently concluded in Ho Chi Minh City.
Don ca tai tu means playing traditional musical instruments and singing tai tu chamber music.
Performances at the festival express a look back to tradition in the present time. Songs feature good examples during the wars, in the national renovation process and criticize social evils.
The attendance of young artists in the festival showed their effort to preserve the nation’s intangible culture while many artists in the field are becoming older.
Particularly, the performance with a dan tranh (16-chord zither) of a blind girl from Cu Chi district left a strong impression on the audience.
The first prize belonged to clubs of Tan Binh district. Tai tu club of Go Vap won the second prize. Third prizes were presented to bands from Binh Duong and Long An provinces.
A campaign to write new words for original tai tu music has attracted about 100 amateur artists and students.
The festival aims to preserve this traditional music amidst the confused music market at present.
By HOAI VU


More: http://www.nhandan.org.vn/vietnamese/thoisu/150603/tinkh_lienhoan.htm

 


Ban Co Biet ?

Đờn Ca Tài Tử Nam Bộ

Ở Nam Bộ, kể cả dân gốc gác tại chỗ hoặc những người từ xứ xa "tới đây th́ ở lại đây" đều nằm ḷang câu tán dương khi nghe đờn ca tài tử vọng cổ sáu câu: Ca xuống xề nghe "ngọt" quá! Đờn nghe "muồi" quá! Hai tính từ biểu cảm mang đặc thù Nam Bộ này được chuyển hóa từ trạng thái vị giác sang trạng thái thính giác ở cấp độ cao, nói lên sự khoái cảm đến say mê, cái "đă" của người thưởng thức, cái tài nghệ của nghệ sĩ và chỉ xuất hiện khoảng 80 năm nay, tức sau khi bài Dạ Cổ Hoài Lang (nay là Vọng cổ) - bài no`̣ng cốt trong 20 bàiTổ của đờn ca tài tử ca nhạc Cải lương: Nhạc sĩ tài ḅa Cao Văn Lầu sáng tác bài Dạ Cổ Hoài Lang tại quê hương Bạc Liêu (1919) - lan nhanh ra ở Nam Bộ, nay phổ biến cả nước. Nghệ sĩ nhân dân út Trà Ôn được tôn vinh là "Đệ nhất danh ca miền Nam", "Vua vọng cổ" nổi danh từ nửa thế kỷ nay từ bài Vọng cổ.

Tại sao người ta mê Vọng cổ, Cải lương? Về lịch sử, vào khoảng năm 1885, khi Vua Hàm Nghi xuất bôn, một nhạc quan của triều đ́nh Huế là Nguyễn Quang Đại (Nam Bộ gọi là Ba Đợi) vào Nam Kỳ ở vùng Đa Kao, Sài G̣o`n, rồi xuống miệt Cần Đước, Cần Giuộc (tỉnh Chợ Lớn) rồi lại trở lên sống và qua đời tại Hộ 16 (quận 8, TP.HCM) ngày nay. Ôn dạy, phổ biến nhạc lễ, nhạc tài tử, có cải biên. Các thế hệ học tṛo` của ông rất đông ở nhiều nơi, nhiều người nổi danh như: Sáu Thới (thầy giáo của Giáo Thinh), Năm Xem (ông ngoại nhạc sĩ Hai Biểu), Ba Đồng (Chợ Lớn), út Lăng (B́i`nh Dương), lớp sau đó: Tư Huyện, Bảy Hàm, Tự Tụi, Văn Vĩ, Sáu Thoàn...

Cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, ở Nam Bộ đă h́i`nh thành 2 nhóm ca nhạc tài tử và tranh đua với nhau về nghệ thuật, ra sức cải tiến, nâng cao sáng tác thêm nhiều bài bản mới bổ sung vào. Trưởng nhóm miền Tây là ông Trần Quan Quờn (Kư Quờn), trưởng nhóm miền Đông là ông Ba Đợi (Nguyễn Quang Đại). Ông Ba Đợi có công lớn, đă cùng các văn nhân và học tro`̣ giỏi ra sức nghiên cứu, cải biên các bài bản gốc của ca nhạc Cung đi`́nh huế, bằng cách giản dị hóa lối ấn nhịp (nhịp nội, nhịp ngoại, nhịp lơi) song vẫn tôn trọng ḷo`ng bản, để tạo một nhịp điệu ho`̣a hợp với ngôn ngữ, phong cách của dân Nam Bộ, dễ thâm nhập vào quần chúng. Ông Ba Đợi thường nhắc nhở học tro`̣:"Lễ phải có Nghi. Nhạc phải có Ḥo`a. Tiếng đàn phải đủ trầm, bổng, nhặt, khoan".

Nếu nhạc lễ Cung đ́i`nh biểu trưng cho nền văn minh, văn hóa Phú Xuân, thi ca nhạc tài tử, cải lương biểu hiện cho văn minh, văn hóa Nam Bộ. Các nhà nghiên cứu: Sơn Nam, Giáo sư Huỳnh Minh Đức, nhạc sĩ Vũy Chỗ, luật sư nhạc sĩ Tấn Nh́i`... đều cho rằng nhạc tài tử Nam Bộ dựa theo học thuyến Âm - Dương ngũ hành với ngũ cung: Giốc: Ḥo` (Mộc), Chủy: Xự (Hỏa), Cung: Xang (Thổ), dựa trên nền tảng lễ nghĩa, đạo đức phương Đông mang trong ḿnh cái gốc luân lư, mục tiêu đào tạo cung cách làm người. Nó vừa mang nét trang trọng cung kính của nhạc lễ vừa dịu êm ngọt ngào dễ ho`̣a vào tâm hồn những con người vừa định cư ở vùng đất mới mà lo`̣ng không nguôi thương nhớ quê cũ làng xưa. Nó phù hợp vi`́ rất đa dạng đáp ứng  được mọi khía cạnh ti`́nh cảm con người, hoàn cảnh cuộc đời. Có đủ 4 điệu: Bắc, Hạ, Nam, Oán, 4 hơi: Xuân, Ai, Đào, Ngự, chia ra 3 Nam, 6 Bắc, 4 Oán, 7 Bài (Ngự)... Vẫn bản nhạc đó, người ta chỉ cần thay lời mới là sát hợp trong mọi hoàn cảnh: quan, hôn, tang, tế, biệt ly, thất t́i`nh, thất sủng... nên rất đắc dụng, nên tồn tại và phát triển hàng thế kỷ nay và sẽ lưu truyền măi măi. Vi`́ nó là tiếng ḷo`ng.

Mục đích của các bạn đờn ca tài tử là phục vụ vô tư cho các lễ hội, đ́i`nh ám, đám cưới, đám giỗ, buổi tiễn đưa tân binh, đơn vị bộ đội lên đường đánh giặc... không vụ lợi, không cần thù lao, gọi là "giúp vui", mang tính cộng đồng sâu sắc, bi`́nh đẳng giữa mọi người. Ai biết đờn thi`́ đờn, biết ca th́i` ca, một bài cũng được, thậm chí đờn ca có lỡ "rớt" nhịp cũng chẳng ai chê cười mà c̣o`n động viên cố gắng. Những người không biết đờn ca, đủ cả trẻ già trai gái, cả người đi đường thích thi`́ tham gia, cũng tự nhiên đến ngồi nghe với thái độ chăm chú thưởng thức càng động viên các tài tử ca đời càng hay hơn, nếu lâu lâu có bánh trái, trà lá bồi dưỡng cho ban tài tử càng tốt. Ban tài tử nào, ở ấp, xă nào cũng có đông đảo khán, thính giả trung thành. Cuộc chơi không hạn định giờ giấc. Đến khuya, khi mọi người cảm thẩy thỏa măn th́i` chia tay ra về, hẹn lại vào buổi tối hôm sau.

Cứ như vậy thành lệ. Không ai bảo ai, hàng ngày làm lụng vất vả trên đồng ruộng, hoặc có chuyện đi xa, đến chiều phải tranh thủ về để kịp có mặt tham gia hoặc thưởng thức buổi đờn ca tài tử. Năm này tháng nọ cũng lặp lại những bài bản củ - lâu lâu mới có lời ca mới - nhưng người đờn lẫn người nghe vẫn không ai thấy chán, mà trái lại họ như bị ghiền (nghiện) không có không được. Thỉnh thoảng, để "thay đổi không khí" vài người giỏi chữ nghĩa, nắm vững bài bản vừa sáng tác vừa ca, gọi là "Văn sống" rất được hoan nghênh. Nhiều nam, nữ thanh niên sáng dạ nghe riết thuộc lời, thuộc giọng, được vào ca, được truyền nghề. Ông Trượng - Tiên Bửu, Bùi Kiệm - Nguyệt Nga, Lan - Điệp, Tôn Tẫn giả điên... là những bài vỡ ḷo`ng. Mỗi người tự giác rèn luyện tiếng đờn, lời ca cho thêm trau chuốt ngọt ngào.

ở Cần Giuộc, xóm ấp nào cũng có ban đờn ca tài tử, ṇo`ng cốt từ những người giỏi đờn ca tập hợp lớp trẻ làm thầy truyền nghề trực tiếp. Khi có lực lượng đờn ca khá, ai cũng muốn thi thố tài năng bằng cách mở rộn giao lưu với ban nhạc các ấp, xă khác. Bí quyết chắc thắng là phải vững nhịp mới tránh được "nhịp lọt" khỏi bị rớt khi gặp đối thủ có bản lĩnh đờn nhử, đờn phá. ở Cần Đước có Sáu Nữa nổi tiếng đờn nhịp lọt.

Thú chơi đờn ca tài tử c̣on vi`́ phong cảnh hữu t́i`nh, gợi cảm, gần với thiên nhiên. Ngoài số cuộc chơi ở các lễ hội đ́i`nh đám ngồi bộ ván trải chiều bông nghiêm trang, phần nhiều các ban ca nhạc tài tử thích chơi giữa cảnh trời trăng mây nước. Có thể dưới bóng mát gốc me, gốc xoài, gió lộng, trên g̣o` đất cao cạnh ao làng được bao bọc bốn bề là đồng lúa xanh tươi, vàng rực. Hay trên chiếc thuyền trôi xuôi êm ả theo ḍo`ng nước lồng lộng trăng rằm, nên thơ tĩnh mịch, tiếng lá dừa nước hai bên bờ ri`́ rào dịu êm như nền nhạc đệm làm tăng vẻ hữu t́i`nh cho buổi đờn ca tài tử trên sông.

Ḥo` ơi!... Gió đưa con buồn ngủ lên bờ, Mùng ai có trống (xin) cho ngủ nhờ một đêm!

Câu ho`̣ huê t́nh nhẹ nhàng có ư trêu chọc bâng quơ của chàng thanh niên nào đó thường cũng là câu mở đầu đánh giá cho bài ca Văn Thiên Đường, Trường Tương Tư, hay vọng cổ Ti`́nh anh bán chiếu... Tiếng đời, lời ca ngân nga ḥa quyện vào làn gió lan tỏa măi trên mặt sông đầy.

ở nông thôn Nam Bộ, việc biết đờn ca tài tử như là lẽ đương nhiên. Trên đường đi càu, đi cấy gặt lúa, nhất là khi chèo xuồng một ḿi`nh trên sông rộng, hay chống cuồng ba lá thanh thoát giữa rừng rậm U Minh hoặc trong mênh mông đồng nước Tháp Mười, không ai giấu nổi ti`́nh cảm trắc ẩn riêng tư. Những bài ca vọng cổ nằm lo`̣ng, bài ruột sẽ được trào dâng, thậm chí có bài nội dung không dính dáng ǵi` với hoàn cảnh thực tại vẫn ca "chay" (không có đệm đờn) vẫn phóng khoáng lời ca có sức truyền cảm lạ lùng. Không có ai nghe thi`́ ca cho "mi`́nh ên" nghe cho đă. Vi`́ "nghệ sĩ" trước tiên là người thưởng thức sản phẩm của chính ḿnh.

"Nhi`́n trời hiu quạnh rừng đêm sương gió lạnh; hướng quê nhà lo`̣ng thêm chạnh nỗi niềm riêng"... Sầu vương Biên ái, nói lên tâm trạng người chiến binh đồn trú nơi biên cương nhớ quê nhà. "Hận sông Gianh" rất được thường dùng khi đất nước c̣n nỗi đau chia cắt hai miền Nam - Bắc. Lăng mạn cách mạng không gi`́ qua bài "Dệt chặng đường Xuân" ca ngợi anh chị giao liên liên lạc quan trong gian khổ hy sinh, ngày đêm như con thoi khắp sông rạch, đồng bưng của khu Tây Nam Bộ kiên cường hết ḷng đánh giặc. Thời đánh Mỹ, nhiều cán bộ, chiến sĩ Giải phóng quân súng đạn oằn vai trên đường hành quân ra trận vẫn mở radio bỏ túi nghe 6 câu vọng cổ "Long An xanh màu lá mạ" trong cảnh bom đạn Mỹ tàn phá quê hương, "Bài ca Trường Sơn" nỗi ḷo`ng người con người con An Giang Nam Bộ đang đứng trên đỉnh Trường Sơn thương nhớ về Bảy Núi quê nhà mà khắc ghi mối căm thù, tự động viên mi`́nh, động viên đồng đội quyết chiến quyết thắng.

Lời ca của bản Vọng cổ cũng được trau chuốt, súc tích trữ t́i`nh như thơ. Cô giao liên đưa "chiến sỉ qua sông Sài Go`̣n như chở trăng mây trời" sang sông. Chị du kích "sau đợt chống càn, bầu sữa căng, về nhà cho con bú không quên hái bông sen hồng mọc lên trong hố bom đ́a" giành tặng con yêu. Anh hùng đến độ lạ thường. Coi việc đánh giặc như nhổ cỏ bắt sâu hàng ngày ở vườn cà, ruộng lúa... Vọng cổ tài ti`́nh như vậy, chính trị, triết lư, đạo lư nhân bản sâu sắc thời đại.

Bởi vậy, không chỉ giới công, nông, binh mà cả giới trí thức gần thế kỷ nay ở Nam Bộ rất yêu thích và tham gia học đời ca tài tử, cải lương. Những học tṛ nổi danh của thầy Ba Đợi, thầy Sáu Lầu có nhiều thầy thông, thầy kư, đốc học, hương chức hội tề. Ví đờn ca tài tử vừa b́nh dân, vừa cao cấp, vừa gần gũi, vừa thâm sâu, lời ca nguyện chặt tiếng đờn, tiếng nâng bổ lời ca mang theo cả tâm hồn nghệ sĩ, người thưởng thức. Tôi đă được nghe các ban, các CLB đờn ca tài tử của các huyện, thị ở Long An, CLB đờn ca tài tử thị xă Cà Mau, CLB đờn ca tài tử Cao Văn Lầu - thị xă Bạc Liêu... cây đờn ghi ta điện phím lơm có xôm tụ, nhưng không thay được các cây đờn: Co`̣, Ḱi`m, Tranh, Sến cổ truyền vẫn luôn là chủ đạo.

Giáo sư Trần Văn Khê đă có nhận xét rất chính xác: "... chân phương hoa lá trong bài vọng cổ đă được áp dụng một cách thần ti`́nh. Hoa chẳng những đẹp mà c̣o`n thơm. Lá chẳng những xanh mà c̣o`n tươi. Thành ra bản Vọng cổ có cái tươi máy, cái đẹp đẽ, có cái phong phú, cái dồi dào mà sức sống, sức đóng góp của tất cả những người nghệ sĩ, từ đứa con của bác Sáu Lầu sáng tạo, nuôi dưỡng cho nó lớn lên mạnh mẽ, nó đẹp đẽ..." Đó chính là ma lực, sức hấp dẫn, làm say mê ḷo`ng người, ai biết qua rồi khó ḷo`ng bỏ được. Vi`́ nó là bản sắc văn hóa Nam Bộ, văn hóa Việt Nam.

 

 

RETURN TO ACTIVITIES PAGE

 

This information is based on website of BLViet Company http://www.blviet.com/